[WOWTIMES - VIETKINGS] Hát trống quân tại Hưng Yên: Giai điệu giao duyên lưu giữ hồn quê Bắc Bộ - Top các di sản tiêu biểu tại 34 tỉnh, thành Việt Nam (P.46)

03-07-2026

(WOWTIMES - VIETKINGS) Hát trống quân là sinh hoạt văn hóa dân gian, bằng hình thức hát giao duyên của người Việt ở vùng đồng bằng và trung du từ Thanh Hóa trở ra. Nhiều vùng có Hát trống quân nhưng nổi tiếng nhất là ở Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên)

Không ai biết chính xác Hát trống quân có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này đã được cha ông người dân Dạ Trạch, Hưng Yên truyền lại qua nhiều thế hệ. Tương truyền, điệu hát ra đời từ thời vua Hùng thứ 3, khi công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử khai khẩn vùng đất Dạ Trạch, dạy dân cày cấy, dệt vải và ca hát. Cũng có người cho rằng, Hát trống quân bắt nguồn từ thời Triệu Quang Phục khởi nghĩa chống quân Lương, khi nghĩa sĩ gõ nhịp ăn mừng chiến thắng trong đầm lầy Dạ Trạch. Trước Cách mạng tháng Tám, Hát trống quân từng rất thịnh hành, vang lên trong các lễ hội, đêm trăng, dịp nông nhàn. Sau chiến tranh, làn điệu dân ca này có thời gian mai một, nhưng rồi nhờ nỗ lực của người dân, nhiều câu lạc bộ, đội văn nghệ được thành lập, đưa Hát trống quân trở lại đời sống. 

 

 

Hát trống quân là dân ca đối đáp, giao duyên, trao đổi kinh nghiệm sống trong xã hội nông nghiệp lúa nước, được tổ chức chính vào dịp Tết Trung thu. Người dân thường tổ chức hát trống quân vào dịp nông nhàn, sau vụ mùa thu hoạch. Đây là hình thức sinh hoạt mang tính thời vụ, bởi nó phụ thuộc vào chu kỳ cây trồng nông nghiệp. Ngoài ra, các làng còn tổ chức hát vào dịp hội làng, như lễ hội đền Dạ Trạch (tháng Hai Âm lịch).

Người hát trống quân thực hành ở nhiều không gian khác nhau như: lúc đi cấy, làm đồng, trong dịp Tết Trung thu, trong lễ hội, đám khao… Trước đây, hát trong đám khao là hình thức sinh hoạt văn hóa của các gia đình có người được phong chức, phong sắc, lên lão... Người ta tổ chức đám hát ở ngay tại sân nhà chủ. Những người hát hay, ứng đối giỏi trong vùng được mời đến hát, gia chủ và dân làng cũng có thể tham gia. Tuy nhiên, đây thường được coi là sân chơi của những người tầng lớp cao, nên giới bình dân ít khi tham dự. Bởi vậy, có thể coi hát trong đám khao là trình diễn mang tính nghệ thuật cao nhất của hát trống quân. Và, gia chủ bao giờ cũng treo thưởng cho những người ứng đối tài giỏi nhất, hát hay nhất.

 

Ảnh minh họa nghệ thuật hát Trống quân

 

 

Hát trống quân được diễn xướng theo 2 hình thức: Sinh hoạt mang tính thi thố, đối đáp, dân gian gọi là đám hát, thường được tổ chức vào buổi tối, rất hiếm khi tổ chức ban ngày. Sinh hoạt tự do, ở mọi lúc mọi nơi, thuộc về những cá nhân đơn lẻ. Người ta có thể hát khi đi cấy, đi làm cỏ, lúc nghỉ bên vệ đường… phần nhiều là để giải trí. Với hình thức sinh hoạt này, người trẻ có điều kiện học hỏi và rèn luyện theo lớp đi trước và hình thành lớp người kế cận.

Hát trống quân là dạng hát nói, hát kể nương theo niêm luật và thanh điệu bằng trắc. Các điệu Hát trống quân chủ yếu là thể lục bát, song thất lục bát hay thất ngôn bát cú biến thể chút ít. Khi diễn xướng trống quân, người hát phải biết “phát tiếng”, “nhả lời”, chuyển âm tạo điệu. Chủ đề thường ca ngợi quê hương đất nước, lao động sản xuất, tình yêu đôi lứa, các điển tích văn học…

 

 

Theo các nghệ nhân, khi làng lập đám hát, việc đầu tiên phải làm là dựng trống (bắc trống). Trước hết, chuẩn bị một sợi dây mây tươi dài khoảng 4,5 – 5m, hai chiếc cọc tre hoặc gỗ dài chừng 35 - 40cm, một thùng gỗ (hoặc sắt tây) có đường kính từ 35 - 45cm, cao khoảng 45 - 50cm và một cái nạng gỗ (làm bằng chạc cây) cao chừng 12 - 15cm. Dây mây được ngâm nước để đạt tới độ mềm dẻo cần thiết, rồi đập dập 2 đầu dây và buộc chặt vào 2 cái cọc. Cọc được kéo căng sợi mây ra và đóng lút 2 đầu xuống nền đất rắn. Giữa hai đầu sợi mây là thùng gỗ lật úp, được gia cố bằng 3 đai tre, miệng thùng được chêm cách đất để tạo khe thoát âm. Sợi mây được gác lên nạng gỗ đặt giữa đáy thùng, căng tối đa, để đảm bảo tiếng vang của trống quân. Nghệ nhân vừa căng dây, vừa điều chỉnh âm thanh cần thiết. Cái thùng có vai trò như bầu cộng hưởng còn chiếc nạng là ngựa đàn. Khi diễn xướng, 2 người hát bên nam và bên nữ bắc nghế ngồi chéo nhau quay mặt vào thùng gỗ. Đến phiên ai hát thì người đó dùng dùi gõ vào đoạn dây mây ở gần nạng gỗ, trống sẽ phát ra những âm thanh không xác định cao độ, sắc thái hơi giống với tiếng trống da loại nhỡ, nhưng nghe nhỏ và đanh hơn.

Hát trống quân ở Hưng Yên có lúc dùng nhạc cụ đệm (trống quân) trong đám hát, có lúc không (khi hát trống quân tự do). Trống quân trong đám hát có nhiệm vụ giữ nhịp với những âm hình, tiết tấu khác nhau, thường thống nhất ở tính trữ tình/bình ổn. Các dạng tiết tấu không chỉ “đệm”, “làm nền” cho giọng hát, mà trong nhiều trường hợp, còn giữ vai trò “lưu không” khi thay đổi các giọng hát (từ giọng nam sang giọng nữ hoặc ngược lại). Giai điệu của hát trống quân gần với ngữ điệu của tiếng nói, lời được chuyển tải từ thơ.

 

 

Chiếc trống được người Dạ Trạch chế tạo khá đơn giản: trước tiên, họ đào một cái hố, sâu khoảng 20-30cm đổ vỏ ốc xuống. Trên miệng hố được bắc 4 thanh gỗ mỏng để khi đặt miệng thùng sẽ được cách đất để tạo khe thoát âm... ... rồi úp một cái thùng gỗ (cao khoảng 45-50cm, đường kính khoảng 35-45cm) lên trên hố đào. Tiếp theo, người ta căng sợi mây ra và đóng lút 2 đầu cọc xuống nền đất rắn. Họ phải tính toán làm sao để khi kéo sợi dây mây gác lên nạng gỗ đặt trên cái thùng, nó phải đạt một độ căng tối đa để đảm bảo tiếng vang của trống quân. 

 

 

Cách đánh nhạc cụ này khá đặc biệt: dùng dùi đánh vào dây mây. Dây mây rung lên chạm vào mặt thùng gỗ phát ra âm thanh. Âm thanh lại được khuếch đại qua cái hố đất. Vì thế, dân địa phương cũng gọi trống quân là “trống đất”.

 

Lời ca của trống quân là tiếng nói tâm tình, ước vọng về một cuộc sống tươi đẹp, thể hiện trí tuệ của người lao động trước những hiện tượng tự nhiên và xã hội. Do bản chất của Hát trống quân là hình thức hát đối đáp trai gái nên tình yêu nam nữ vẫn là chủ đề nổi bật nhất, biểu hiện ngay từ cách xưng hô: anh – em, chàng – nàng, ta – mình giữa các cặp hát.

Hát trống quân có thể diễn xướng khi đi làm đồng, trong hội hè, ở đám khao… Trong từng trường hợp nhất định, trật tự các bài Hát trống quân có thể khác nhau, tùy theo nội dung của câu hát, bài hát: hát chào, hát mời, hát mời trầu, hát giao duyên, hát đố, hát họa, hát thách cưới, hát chia tay.

 

 

Tại Dạ Trạch (nay là Triệu Việt Vương), các nghệ nhân cho biết, mỗi đám hát phải có đủ bốn đôi nam nữ, trải qua các chặng, một đôi có thể hát suốt đêm, có khi một vài đêm. Ngày nay, những người yêu thích trống quân cổ đã biên soạn và dựng lại được bốn đôi đặc trưng của trống quân xưa. 

Mở đầu, xen giữa hay kết thúc các trổ, các phần, người hát thường sử dụng những làn điệu dân ca khác của người Việt như hát ví, cò lả, sa mạc… làm phần kết nối. Chúng có tác dụng như những đoạn chen, khiến cho tính nghệ thuật của đám hát thêm phong phú, làm cuộc chơi thêm hấp dẫn. Mặt khác, đặc điểm đó cũng đòi hỏi người trình diễn buộc phải có khả năng bẻ làn, nắn điệu, phải được rèn luyện theo thời gian. Hát trống quân ở Bắc Bộ nói chung và ở Hưng Yên nói riêng có nguồn gốc gắn liền với những sự kiện chống ngoại xâm của dân tộc. Có thể nói, đó là nguồn gốc mang đậm dấu ấn lịch sử Đại Việt. Riêng hát trống quân Dạ Trạch còn gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung, gắn với Lễ hội Chử Đồng Tử. 

 

 

Với giá trị tiêu biểu, Hát trống quân ở Hưng Yên được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21/11/2016.

 

 

Hát trống quân Hưng Yên vẫn vang vọng giữa đời sống hôm nay như nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại. Tiếng hát dân gian mộc mạc ấy không chỉ lưu giữ hồn quê xứ Nhãn mà còn khơi dậy niềm tự hào và ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa Việt.

 

----------------------------------------------------------------------------

TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM (VIETKINGS)

 01 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: (0283) 8 477 477

Đăng ký Kỷ lục: 0908 254 258 - 08 333 68 555

 
 

Mỹ Hằng - WowTimes (Tổng hợp và biên tập, ảnh: Internet)