[WOWTIMES - VIETKINGS] Đờn ca tài tử tại Cà Mau: Nơi hồn quê Nam Bộ ngân vang trong từng câu ca, tiếng đờn - Top các di sản tiêu biểu tại 34 tỉnh, thành Việt Nam (P.23)

05-06-2026

(WOWTIMES - VIETKINGS) Bắt nguồn từ không gian dân dã của miền sông nước, Đờn ca tài tử Nam Bộ dần vươn mình vượt khỏi ranh giới làng quê để trở thành niềm tự hào của nghệ thuật Việt Nam. Tiếng đàn kìm, đàn cò, đàn tranh hòa quyện cùng giọng ca chân phương, sâu lắng đã làm nên nét duyên riêng, khắc họa đậm đà bản sắc văn hóa phương Nam.

Đờn ca tài tử Nam Bộ là một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam có ảnh hưởng lớn đến 21 tỉnh thành phía Nam. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử ra đời vào cuối thế kỷ XIX, được giới bình dân tìm tòi sáng tác và trình diễn sau những giờ lao động vất vả.

 

 

Đờn ca tài tử từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người Nam Bộ

 

Theo những thông tin từ thuở sơ khai được bà con đất phương Nam kể lại, đờn ca tài tử bắt nguồn từ nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và âm nhạc của các tỉnh Nam Trung Bộ. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn khi phong trào Cần Vương tiến vào Nam đã đem truyền thống ca Huế vào vùng Nam Bộ. Loại hình nghệ thuật này ban đầu chỉ trình diễn trong phạm vi không gian tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sinh nhật, trong các lễ hội, sau khi thu hoạch mùa vụ và thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng. Sau khi du nhập vào miền Nam, đờn ca tài tử nhanh chóng được người dân đón nhận, đến đầu thế kỷ XX, đờn ca tài tử trở thành một phong trào ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các địa phương như: Bạc Liêu, Vĩnh Long, Long An, Mỹ Tho, Sài Gòn,... Bạc Liêu (nay là Cà Mau) là một trong những cái nôi lớn của đờn ca tài tử Nam Bộ. Đến thập niên cuối thế kỷ XIX, ông Lê Tài Khí, với tên thường gọi Nhạc Khị, là người đầu tiên đứng ra thành lập Ban cổ nhạc Bạc Liêu.

 
 

Hình ảnh một số đoàn đờn ca tài tử những năm 1900

 

Ông đã ra công hiệu đính, hệ thống hai mươi bản tổ, phân chia các bản nhạc cổ của đờn ca tài tử làm bốn loại: Sáu Bắc, Bảy bài, Bốn Oán, Ba Nam. Trong đó, Sáu bài Bắc (tượng trưng cho mùa xuân, giọng nhạc vui tươi, khoan khoái): Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Bình Bán Chấn, Xuân Tình, Tây Thi, Cổ Bản. Bảy bài (tượng trưng cho mùa hạ, giọng nhạc nghiêm trang, uy nghi): Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc. Bốn bài Oán (tượng trưng cho mùa đông, giọng nhạc bi thương, ai oán): Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Giang Nam, Phụng Cầu. Ba bài Nam (tượng trưng cho mùa thu, giọng nhạc buồn thảm): Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo (Đảo ngũ cung). Ông còn sáng tác những bản mới, bốn bản: ‘Ngự giá đăng lâu,’ ‘Minh hoàng thưởng nguyệt,’ ‘Phò mã giao duyên,’ và ‘Ái tử kê’ của ông đã được giới cổ nhạc tôn xưng là Tứ Bửu (bốn món báu vật) của đờn ca tài tử.

 

 

Một số tác phẩm vẫn còn đươc các nghệ nhân lưu giữ đến hiện tại

 

Một trong những học trò giỏi của Nhạc Khị thời bấy giờ là Cao Văn Lầu (1892-1976), hay còn gọi là Sáu Lầu, tác giả của Dạ cổ hoài lang. Ông sinh ra tại xóm Cái Cui thuộc Chí Mỹ, Vàm Cỏ, Long An (nay là phường Long An, tỉnh Bạc Liêu) sau do hoàn cảnh khó khăn, gia đình ông trôi dạt nhiều nơi trước khi dừng chân tại Bạc Liêu. Và cũng ở đây, nhờ có sự chỉ dạy của nhạc sư Lê Tài Khí, tài năng âm nhạc của ông bắt đầu phát triển.

 

 

Trong rất nhiều loạt bản nhạc khác nhau, ‘Dạ cổ hoài lang’ của Cao Văn Lầu như một điểm sáng trứ danh

 

 

Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu

 

Nhạc cụ được sử dụng trong Đờn ca tài tử gồm: đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn tỳ bà, đàn tam (hoặc đàn sến, đàn độc huyền), sáo, tiêu, song loan... Từ khoảng năm 1930 có thêm đàn ghita phím lõm, violon, ghita Hawaii (đàn hạ uy cầm). Người thực hành Đờn ca tài tử gồm: người dạy đàn (thầy Đờn) có kỹ thuật đàn giỏi, thông thạo những bài bản cổ, dạy cách chơi các nhạc cụ; người đặt lời (thầy Tuồng) nắm giữ tri thức và kinh nghiệm, sáng tạo những bài bản mới; người dạy ca (thầy Ca) thông thạo những bài bản cổ, có kỹ thuật ca điêu luyện, dạy cách ca ngâm, ngân, luyến,...; người đờn (Danh cầm) là người chơi nhạc cụ và người ca (Danh ca) là người thể hiện các bài bản bằng lời.

Đờn ca tài tử được thực hành theo nhóm, câu lạc bộ và gia đình, ít khi nhạc công độc tấu, mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu. Dàn nhạc thường cùng ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với phong cách thảnh thơi, lãng đãng, dựa trên khung bài bản cố định gọi là “lòng bản”. Khán giả có thể cùng tham gia thực hành, bình luận và sáng tạo.

 

 

Nhạc cụ đờn ca tài tử

 

Về trang phục, những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau nên thường chỉ mặc các loại thường phục khi tham gia trình diễn. Khi nào diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu họ mới mặc các trang phục biểu diễn. Những năm gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nên các nhóm nhạc tài tử hợp lại với nhau thành các câu lạc bộ đờn ca tài tử mang tính bán chuyên nghiệp. Bên cạnh nghề nghiệp chính, họ phục vụ văn nghệ khi có yêu cầu.

Một số người nói rằng từ "tài tử" có nghĩa là nghiệp dư. Trong thực tế, từ này có nghĩa là tài năng và ngụ ý rằng những người này không dùng nghệ thuật để kiếm kế sinh nhai, mà chỉ để cho vui hoặc những lúc ngẫu hứng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ không phải là chuyên gia. Ngược lại, để trở thành một nghệ sĩ trong ý nghĩa xác thực nhất của từ này, họ phải thực hành trong một thời gian dài. Đối với hình thức âm nhạc, vai trò của các ca sĩ và nhạc sĩ đều bình đẳng. Ca trù hát và người ca (bài hát truyền thống từ miền Bắc và miền Trung) là phụ nữ, trong khi đờn ca tài tử bao gồm các ca sĩ nam nữ và họ có vai trò bình đẳng.

 

 

Ngoài 20 bài bản tổ là nguồn gốc diễn xướng của Đờn ca tài tử Nam Bộ thì về sau này bên cạnh Vọng Cổ thì những bài bản vắn cũng thường xuyên được sử dụng trong các buổi sinh hoạt cũng như biểu diễn ví dụ phổ biến như: Văn Thiên Tường, Sương Chiều, Tú Anh, Bình Sa Lạc Nhạn, Đoản Khúc Lam Giang, Phi Vân Điệp Khúc... 

Đờn ca tài tử được truyền dạy theo hai hình thức: truyền ngón, truyền khẩu trực tiếp tại nhà, câu lạc bộ, gia đình, dòng họ; truyền ngón, truyền khẩu kết hợp với giáo án, bài giảng tại một số trường văn hóa nghệ thuật địa phương và quốc gia. Người học đàn cần ít nhất 3 năm để học những kỹ năng cơ bản như: rao, rung, nhấn, khảy, búng, phi, vê, láy, day, chớp, chụp…; học chơi độc chiếc, tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu, lục tấu với các nhạc cụ khác nhau. Người học ca (đơn ca, song ca) học những bài truyền thống, trên cơ sở đó sáng tạo cách nhấn nhá, luyến láy tinh tế theo nhạc điệu và lời ca của bài gốc

 

 

Năm 2013, Đờn ca tài tử Nam Bộ, trong đó có Bạc Liêu, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là niềm tự hào lớn đối với người dân Nam Bộ và cũng là động lực để các địa phương tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa độc đáo này.

Đờn ca tài tử Bạc Liêu không chỉ là di sản văn hóa quý báu mà còn là linh hồn của người dân miền Tây Nam Bộ. Trong dòng chảy của thời gian, loại hình nghệ thuật này vẫn giữ được sức sống mãnh liệt, tiếp tục phát triển và lan tỏa đến nhiều thế hệ. Việc bảo tồn và phát huy đờn ca tài tử không chỉ là trách nhiệm của riêng Bạc Liêu mà còn là sứ mệnh chung của cả dân tộc Việt Nam, để gìn giữ một nét đẹp văn hóa đậm đà bản sắc quê hương.

----------------------------------------------------------------------------

TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM (VIETKINGS)

 01 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: (0283) 8 477 477

Đăng ký Kỷ lục: 0908 254 258 - 08 333 68 555

 

 

Mỹ Hằng - WowTimes (Tổng hợp và biên tập, ảnh: Internet)